|
New Page 1
1. Mã nguồn mở
Trong bài “sự dịch chuyển của mẫu hình mã nguồn mở” (open
source paradigm shift), Tim O’Reilly – CEO của nhà xuất bản kỹ thuật
O’Reilly nổi tiếng – lập luận rằng phong trào mã nguồn mở và mã nguồn miễn phí
là một sự dịch chuyển mẫu hình của công nghệ và khoa học máy tính. Khái niệm
dịch chuyển mẫu hình trong khoa học đầu tiên được triết gia Thomas Kuhn mô tả
trong quyển sách lừng danh “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học”. Đại khái,
Kuhn lý luận rằng khoa học không phát triển tuyến tính mà thỉnh thoảng có các
bước nhảy vọt khổng lồ gọi là một lần dịch chuyển mẫu hình. (Ví dụ: Newton và
Einstein đánh dấu hai bước nhảy vọt của Vật Lý.)
Không ở tầm mức như các định luật Newton hay thuyết tương
đối, nhưng quả thật phong trào mã nguồn mở về căn bản đã định hình lại ngành
công nghiệp phần mềm thế giới và các mô hình kinh doanh của họ; phá hủy (hoặc
cân bằng lại) các thế lực trong thế giới CNTT; làm giảm khoảng cách và sự phụ
thuộc công nghệ của các nước chậm phát triển đến các chàng khổng lồ. Phong trào
này truyền cảm hứng cho một loạt các phong trào “kiến thức mở” khác như phong
trào wiki và các thư viện trực tuyến, chia sẻ tiến độ nghiên cứu công nghệ sinh
học và y học, phong trào chia sẻ các nội dung điện tử qua bằng sáng tạo công (Creative
Commons License). Mã nguồn mở khuấy đảo và thay đổi các quan niệm truyền
thống về luật bằng phát minh/sáng chế và các loại bằng sở hữu trí tuệ khác; làm
bối rối các nhà hoạch định chính sách CNTT của các nhà nước phương Tây, đặc biệt
là Mỹ; thách đố các
nhà kinh tế khi cơ man nào là các lập trình viên hàng đầu và cả các công ty lớn
tham gia trò chơi “cho không” này. Thậm chí một số các nhà khoa học xã hội đã và
đang phát triển ý tưởng nguồn mở vào các mô hình dân chủ hóa quản lý nhà nước.
Cần ít nhất vài quyển sách để phân tích và dẫn chứng toàn bộ các ảnh hưởng
trên của mã nguồn mở. Trong khuôn khổ bài này, ta xét một ví dụ kinh điển và
phần nào … giật gân.
Các tài liệu Halloween là
một chuỗi các báo cáo nội bộ của Microsoft về các chiến lược đối chọi với phong
trào phần mềm mã nguồn mở nói chung và Linux nói riêng.
Tài liệu Halloween
số 1 bị lộ ra ngoài cuối tháng 10 năm 1998, đến tay một lập trình viên có
tiếng là Eric Raymond.
Eric đăng luôn lên website của anh cùng với lời bình. Microsoft đã nhận rằng tài
liệu này là thật, tuy nhiên không nhận rằng đó là tài liệu chiến lược kinh doanh,
mà chỉ là nghiên cứu kỹ thuật.
Tài liệu Halloween
số 2 nói riêng về Linux (thay vì phần mềm mã nguồn mở nói chung) cũng ở tình
trạng tương tự ngay sau đó. Một chuỗi các báo cáo, đính chính, phát biểu từ
Microsoft liên quan đến các tài liệu này cũng bị lộ từ năm 1998 đến nay, và được
đánh số từ 3 đến 11. Các tài liệu thú vị này vẽ một bức tranh nhiều màu sắc
trong quan hệ giữa các đối trọng phần mềm thế giới. Ví dụ như vụ
Microsoft tuồn cho công ty SCO 86 triệu đô để
“oánh” Linux (và vì thế, IBM) được tiết lộ ở
Halloween 9 & 10.
Khi Microsoft dồn nhân/vật lực vào cái gì thì hẳn là cái đó đã/đang có tiềm năm
cực lớn: “chiến tranh trình duyệt” với Netscape, “chiến tranh công cụ tìm kiếm”
với Google, “chiến tranh hệ điều hành” với GNU/Linux, chiến tranh trong thị
trường trò chơi điện tử với Sony, v.v.
2. Kiến trúc mở của Internet
Có thể nói không ngoa là các phong trào mã nguồn mở, mã
nguồn miễn phí sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có Internet. Internet cho phép các
lập trình viên trên toàn thế giới học hỏi và trao đổi kiến thức, hợp tác từ xa
phát triển các dự án phần mềm. Giải thưởng Turing (tương đương với Nobel cho
ngành khoa học máy tính) năm qua đã về tay các tiến sĩ Vinton Cerf và Robert
Kahn, những người phác thảo kiến trúc Internet, thiết kế giao thức TCP/IP, và
đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hiện thực hóa Internet trong khoảng 30 năm
nay.
Hai yếu tố quan trọng nhất làm Internet bùng phát là kiến trúc mở và nguyên tắc
thiết kế end-to-end (E2E, tạm dịch là “từ đầu này đến đầu kia”).
Đầu những năm 1960, các ý tưởng khởi điểm về mạng chuyển gói (packet
switched networks) dẫn đến mạng
ARPANET do phòng nghiên cứu
bộ quốc phòng Mỹ (DARPA) tài
trợ. Cùng năm này mạng chuyển gói radio đầu tiên (ALOHA
Net) bắt đầu làm việc. Cùng với sự ra đời của email cuối 71, đầu 72, và phác
thảo ý tưởng về mạng cục bộ Ethernet, Robert Kahn nhận rõ sự cần thiết của việc
nối các mạng khác nhau với nhau để chia sẻ tài nguyên và thông tin. Kahn phác
thảo ý tưởng về một cấu hình mạng mở (open networking architecture) trong đó các
mạng với kiến trúc, cấu hình máy, hệ điều hành … khác nhau có thể nối kết với
nhau. Cái mạng của các mạng này được gọi là Internet. Đến đầu năm 1973, Kahn hợp
tác với Cerf để phát triển bộ giao thức TCP/IP – giao thức mà tuyệt đại đa số
các máy tính nối mạng hiện nay đều dùng. Cấu trúc mở đã cho phép các nhà sản
xuất phần cứng, phần mềm phát triển và sáng tạo sản phẩm mạng độc lập nối mạng
với nhau. Dù đã phát triển và thích nghi, các ý tưởng căn bản của TCP/IP vẫn
đứng vững trước bao nhiêu kỹ thuật mạng mới, bao nhiêu trăm triệu máy mới nối
mạng, nghìn vạn các ứng dụng mới của Internet. Đây là bằng chứng hùng hồn cho
tính cách mạng của ý tưởng kiến trúc mở.
Nguyên tắc E2E có ảnh hưởng tuyệt đối lớn đến sự phát triển các ứng dụng quan
trọng nhất trên mạng Internet toàn cầu, vì nó cho phép người sử dụng (thay vì
người cung cấp dịch vụ mạng) sáng tạo và phát triển các ứng dụng mới mà không bị
mạng làm phiền (mạng chỉ có chức năng chuyển giao các gói dữ liệu, không ngăn
cản/lọc/thay đổi dữ liệu).
Bằng chứng hùng hồn cho tầm quan trọng của nguyên tắc E2E là các ứng dụng như
email, World Wide Web, ứng dụng P2P (Napster, Gnutella, Kazaa), các công cụ chat
(và webcam), công cụ tìm kiếm (như Google), … đều do người dùng Internet sáng
tạo và phát triển. Nếu không có cấu trúc mở theo nguyên tắc E2E thì một vài công
ty cung cấp dịch vụ mạng đã không thể nào phát triển các ứng dụng trên Internet
vũ bão như thế trong 30 năm qua.
3. Tinh thần mở
Mô hình mã nguồn mở và kiến trúc mở trên nguyên tắc E2E của Internet có một điểm
chung: cho phép người sử dụng phát huy tối đa quyền tự do “tí toáy”. Bằng cách
này, tinh thần mở tạo nền tảng và kích khích tiềm năng sáng tạo vô hạn từ toàn
bộ nhân loại, vì nó ghi nhận các tiếng nói cá nhân trong tiến trình phát triển
của thế giới. Động lực của sự “cá nhân hóa” này có sức mạnh đáng kinh ngạc như
đã minh chứng.
Thật đáng buồn khi gần đây nguyên tắc E2E ngày càng bị vi phạm nặng nề. Các mục
tiêu kinh tế ngắn hạn hay các chuẩn mực tôn giáo, chính trị, văn hóa độc đoán
đang dựng nên rào cản dài hạn kiềm hãm sự sáng tạo của nhân loại. Ví dụ như hiện
nay các gói dữ liệu vẫn đang bị tường lửa lọc. Vì lý do kinh tế, nhiều công ty
viễn thông và cáp truyền hình cài đặt các bộ lọc VoIP để không cho phép gọi điện
thoại qua Internet, các dòng dữ liệu đa phương tiện cũng bị nhiều ISP phân biệt
đối xử. Vint Cerf, Bob Kahn, và rất nhiều nhà khoa học khác đang tích cực
tham gia thuyết phục chính quyền Mỹ ngăn cản xu hướng này.
Tinh thần mở chính là sự chuyển dịch mẫu hình của khoa học và công nghệ thế giới
trong hơn 30 năm bùng nổ CNTT vừa qua. Tự do tí toáy đang dần san phẳng bao
nhiêu rào cản, biên giới địa-chính trị, kinh tế, văn hóa tri thức, … tạo nên một
“thế giới phẳng” (theo tựa đề quyển “Thế
giới phẳng: lược sử thế kỷ 21” của nhà báo Thomas Friedman). Phiên bản “toàn
cầu hóa 3.0” đang được phát triển không phải bởi các tập đoàn xuyên quốc gia
khổng lồ hay tổ chức tiền tệ thế giới, mà bởi cơ man nào là các cá nhân ngồi bên
chiếc PC nối mạng, học tập, lao động, và sáng tạo từng phút từng giây.
Cơ hội của quả đất phẳng đã san bằng sân chơi tri thức, đặc biệt là tri thức
CNTT. Tinh thần mở là cơ hội nghìn năm một thủa cho các nhân tài đất Việt vươn
ra thế giới: học hỏi, lao động, sáng tạo. Đó cũng là phương tiện cực kỳ cụ thể
để các cá nhân phát huy quyền tự do thể hiện, một trong những quyền cơ bản nhất
của con người. Đây chính là cái ngòi nổ cho các phong trào tri thức mở của thế
giới, giải phóng tiềm năng sáng tạo vô hạn của nhân loại.
Tạo điều kiện tối đa cho tinh thần mở này là một trong những điều kiện tiên
quyết cho phát triển về nhiều mặt trong kỷ nguyên mới. Tìm một điểm cân bằng hữu
lý giữa các giá trị xã hội ngắn hạn và các giá trị vĩnh hằng của lao động và
sáng tạo là trọng trách của các nhà hoạch định chính sách.
|